Từng đi vào thơ ca như một niềm cảm tác vô hạn cho các thi sĩ,
hình ảnh cây dừa từ lâu đã trở nên thân thương, quen thuộc, nhất là đối
với những người con xứ cù lao và vùng đất võ. Món ăn từ dừa thì theo đó,
cũng quá đỗi ngon lành.
Giải Cánh diều bạc dành cho phim tài liệu “Bà ngoại leo dừa” của đạo
diễn Đỗ Thành An ngày 13-11-2009 đã đưa tên tuổi chị Nguyễn Thị Mười Hai
đến tận… châu Mỹ. Cái nghề mà người phụ nữ này theo thì ở xứ dừa, không
ít thanh niên trai tráng đã làm nhưng có lẽ, đi khắp cả nước, cũng
chẳng tìm được người phụ nữ thứ hai chọn nó làm nghiệp. Rồi chuyện lão
nông miệt Cồn Ốc Đỗ Thành Thưởng cặm cụi trồng lại dừa ở thời điểm năm
1993, lúc mà người dân Bến Tre đốn dừa để sau này trở thành ông “vua
dừa” của xứ cồn cũng từng gây “sốc” một thời.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà người viết lại nhắc đến hai câu chuyện chẳng
ăn nhập gì tới cái gọi là ẩm thực. Nhưng đó là một sự liên tưởng vì xoay
quanh cây dừa, có lắm món độc, món hay lẫn những trò vui dân gian tếu
táo không thua gì những câu chuyện “ly kỳ” kia. Và để thấy rằng, cây dừa
ở xứ dừa đang hồi sinh từng ngày.
Gieo vào đời sống
“Thấy dừa thì nhớ Bến Tre. Thấy bông lúa đẹp thương về Hậu Giang”. Câu
ca dao của người miền Tây chân chất và thân tình quá đỗi. Bến Tre cây
trái mênh mông nhưng rồi cũng chẳng thể vượt qua nổi “bóng dừa”. Dừa đã
gắn kết với người con đất Đồng Khởi, ăn sâu vào máu thịt và tồn tại
trong sự hiểu biết của những người khác xứ. Để rồi, đi đâu, làm gì cũng
mang theo một tiếng dừa để “nhập cư” vào cộng đồng.
Đất Bình Định trồng dừa cũng nhiều nhưng đặc sản mà họ mang theo giới
thiệu với người khắp xứ đôi khi không phải là dừa mà có thể là một thứ
khác như nem chua chợ Huyện, bánh hỏi thịt quay hay bánh canh chả cá Quy
Nhơn chẳng hạn. Món nào món nấy rõ ràng, tách bạch.
Còn Bến Tre thì khác, huyện nào, xã nào cũng chỉ một đặc sản chung là
dừa, cụ thể hơn là kẹo dừa, bánh tráng dừa hay rượu dừa. Giá trị cây dừa
đã vượt qua một loài cây công nghiệp, dừa dường như đã trở thành “lương
thực” riêng của đất Bến Tre.
Không những thế, ngay cả những phần không ăn được đôi khi cũng trở
thành một phần đời sống của người bản xứ. Nếu có dịp tận mắt chứng kiến
một đám cưới “nhà quê” tại đây, bạn đừng ngạc nhiên khi người ta kết
cổng bằng lá dừa, trang trí trong ngoài bằng hoa dừa, trái dừa, đơm
bông, đệm hoa với lá dừa non, mấy trái đủng đỉnh và buồng dừa nước trĩu
trịt chặt được ở mé sông, mé rạch. Những thứ này cũng cùng họ dừa với
nhau cả. Đó là chưa kể, mái lợp tạm bợ cũng bằng tàu dừa, thậm chí cây
cầu bắc ngang con mương cho hai họ dễ sang cũng bằng cây dừa tất. Quả
quyết rằng, chỉ ở xứ dừa mới có cảnh tượng “xưa nay chưa từng thấy” ấy.
Rồi thì trẻ con đua nhau bứt đọt dừa xếp thành đủ thứ, nào cào cào, nào
chong chóng, nào sâu, nào rồng khoe nhau khắp xóm. Thậm chí, không ít
buổi trưa, bọn trẻ đi nhặt bông dừa rụng, cột chỉ câu còng vó ở mé
mương, chẳng để làm gì, chỉ vứt đó cho vịt, cho ngỗng. “Kinh tế” hơn thì
đào trùn (giun) đất, câu cá bống dừa ở mấy bụi dừa nước về nhờ mẹ kho ơ
cá, rắc tiêu, thêm ít mỡ, ăn cơm những ngày mưa thì không khéo lại...
vỡ bụng. Thế mới thấy, chính cây dừa đã hình thành lối sống của người
bản xứ và dù muốn dù không, người ta vẫn phải thủy chung với nó.
Dừa hữu dụng là thế, theo đó, món ăn từ dừa thì cũng có tới hàng trăm.
Lễ hội dừa được tổ chức trong năm 2009 vừa qua là lần thứ hai Bến Tre
tôn vinh cây dừa như một biểu tượng của quê hương bằng chính những món
ngon của xứ sở. Và trong đó, có không ít những món được liệt vào hàng
“ngon lẫm liệt” nếu không nói là quá độc đáo.
Gặt vào món ăn
Dừa sử dụng trong món ăn thì đa dạng, từ nước dừa, cơm dừa, cốt dừa đến
cổ hủ dừa, không bỏ phần nào. Những năm khó khăn, dừa thậm chí trở
thành thức ăn độn cho những bữa cơm nhiều rau, thiếu hẳn thịt cá. Và có
lẽ cũng chính từ đó đã sinh ra những món không miền nào có. Nhiều nhất
là cách người ta thêm nước cốt dừa vào những món ăn. Ví như món cháo dừa
ăn với muối. Món ăn nào có gì đâu, chỉ ít gạo nếp nấu nhừ, thêm nước
cốt dừa cho kẹo quánh, nêm thêm tí muối mằn mặn đậm đà. Hay như bánh
canh tép cũng có nước cốt dừa, thậm chí cá kho.
Còn nữa, món ngon trứ danh của nơi đây là tép rang dừa. Tép chọn là tép
đất, mình cong bóng, nâu ánh, rang cùng với nước cốt dừa, để lửa riu
riu cho đến khi béo sánh, tép ươm đỏ, vỏ bong lên, ươm vàng mỡ màng. Khi
ấy, ăn với cháo trắng ngày mưa thì quên cả đường về. Cứ thế, nước cốt
dừa được thêm vào những món ăn để nó biến thành đặc sản riêng của người
bản xứ, cốt để tăng vị béo tự nhiên. Hay như cách người ta để nguyên
miếng cơm dừa cứng cạy - tức cơm dừa vừa cứng tới không mềm hay cứng quá
cho vào thịt kho. Miếng dừa thấm, ngả màu đen vàng, ăn vào nghe vị mỡ
màng của thịt và vị béo riêng của dừa. Đây quả là món độc!
Người Sài Gòn giờ đã biết ăn cổ hủ dừa. Ăn món này thì có vẻ hơi xa xỉ
và tốn kém vì dừa trồng mà lấy cổ hủ là xem như hư luôn cây dừa. Cho
nên, người ta chỉ được ăn cổ hủ khi trong vườn nhà có cây dừa nào được
hạ xuống. Cổ hủ dừa đốn xuống phải ăn ngay, để sẽ già. Để trữ lâu hơn
một chút, người ta đem ngâm hèm cho hơi chua, sau đó vớt ra, xào với
thịt. Món này “bợm nhậu” ghiền lắm, nhưng không là người bản xứ, hẳn sẽ
không biết ăn.
Nói đến dừa nghe tưởng quẩn quanh nhưng thật ra, có nói đến… sáng vẫn
chưa xong dù chỉ riêng món ăn. Đó là chưa kể những món ngon “ký sinh”
trên dừa. Liệt kê món từ dừa cho phong phú mà bỏ sót món chuột dừa quay
hay đuông dừa rang mọng là xem như chưa sành. Vì suy cho cùng, chúng
cũng từ dừa mà ra. Loại nào cũng ăn tinh túy của dừa mà thành. Nếu chuột
dừa chỉ phá trái thì đuông dừa “ác địa” hơn, ăn đứt cả ngọn, phá hủy cả
cây. Vì thế, nói như Vũ Bằng “Ăn đuông không phải là chỉ ăn một con sâu
mà là ăn cả một sự diễn tiến của mấy kiếp sống vào lòng, ăn đuông là ăn
cả hương hoa của đất thơm, là ăn cỏ cây mây nước, là ăn mấy chục năm
buồn vui, tươi đẹp và thơ mộng”.
Thế mới thấy, có lắm những món độc đã nên hình nên hài từ những rặng dừa quê để đi vào
thế giới
ẩm thực muôn màu muôn vẻ.
0 nhận xét:
Đăng nhận xét