Gọi các loài rong tảo là rau của biển, có đúng mà có sai. Đúng vì người
ta khai thác rong rêu làm món ăn cũng nhiều, nhưng lại chẳng phải nuôi
trồng tưới tắm, hay vun bón nhọc công. Thế thì có khi gọi “cỏ biển” lại
chính xác hơn rau. Nhưng rong rêu ăn được, ăn ngon và bổ dưỡng nữa là
đằng khác. Đến nay người ta cũng đã nuôi trồng nhiều loại rong, có gieo
giống, có thu hoạch theo mùa vụ hẳn hoi chứ không chỉ phó mặc cho ông
trời nữa.
Những cánh đồng giữa biển
Đồng ruộng và biển như hai thái cực hoàn toàn khác nhau. Ấy thế nhưng,
lạc vào một thảm rong dưới biển bạn mới thấy mọi ranh giới đều nhạt
nhòa, vô nghĩa. Những thân rong mơ non tơ mềm mại vươn thẳng lên cao,
uốn lượn như múa, chẳng khác gì một cánh đồng lúa đang rập rờn trong
gió. Rong mơ già dài đến vài chục thước, màu sậm hơn, chuyển sắc nâu,
thân to và lá có thể phát triển đến cỡ như bàn tay đứa trẻ. Những cành
lá, những túi khí của rong mơ trông như những quả mọng trong veo có thể
trở thành một món đồ chơi mà trẻ con nào cũng mê mẩn.
Còn nếu là bãi rong tía thì cảnh tượng thường thấy lại là những lá rong
bản to khổng lồ, vờn quyện trong nước như những dải lụa mềm óng ả. Rong
sụn lại có màu xanh trong, trông như những cành cây gầy guộc không lá.
Rong câu hay rong rễ tre trông rất giống rong sụn, nhưng cành gầy guộc
hơn và màu vàng nâu. Rong nho màu xanh lục, mọc thành từng chùm như
những quả nho tí hon, hay một dề trứng cá chi chít, mọng nước.
Ở Việt Nam, khu vực miền Trung với những rạn san hô chết, hoặc những
vùng sóng mạnh, thủy triều lên xuống rõ rệt có mọc rất nhiều rong. Rong
vốn chuộng nơi nước ấm như thế. Tùy theo vùng nước, theo loài mà rong
mọc từ tháng giêng đến tháng 7 âm lịch hàng năm. Nhưng đa số rộ lên vào
mùa hè. Lặn hụp dưới làn nước trong veo để vớt rong, hay để “gặt” những
dề rong tía, rong sụn cũng là một cái thú mà không phải ai cũng được
hưởng. Muốn nhàn hơn thì tìm những nơi rong mọc cạn, đợi nước triều rút,
chỉ việc ra cắt hoặc bứt rong. Thứ quà của biển này chế biến được khá
nhiều món ăn, lại rất giàu dinh dưỡng.
Mùa thu hoạch
Đã có đồng ruộng thì có mùa thu hoạch. Có lẽ rong là thứ thu hoạch nhàn
nhất, chỉ cần vớt là có hàng túm rong. Rong vừa vớt lên thường còn rất
nhiều sạn cát, phải sơ chế qua trước khi dùng. Kỳ lạ là loài rong tía
thường mọc trong thiên nhiên với những màu từ đỏ sang tím, sau khi chế
biến lại chuyển thành màu xanh rêu đậm. Đây là loại rong khá phổ biến
trong thế giới ẩm thực, mà trong món ăn Trung Hoa hay gọi pinyin, món
Nhật lại là nori, còn Hàn Quốc thì tạo ra món kim hay gim. Lại còn loại
tảo nâu nổi tiếng với cái tên kombu rất phổ biến mà người Nhật thường
dùng để nấu lấy nước dùng cho vị ngọt hơn tất cả các loại rau củ hầm
khác. Lá kombu sau khi nấu để lấy chất ngọt vẫn có thể dùng lại để làm
gỏi, hay xắt nhuyễn cho vào chè ăn giòn sừn sựt, ở Việt Nam hay gọi là
phổ tai. Không dùng rong biển như một loại thức ăn truyền thống, làm nền
cho cả một nền ẩm thực như Nhật, nhưng các món chế biến từ rong biển
cũng phong phú không kém, nhất là ở các tỉnh miền Trung.
Rong mơ thường được dùng để nấu canh, hầm xương hay nấu chè. Vị ngọt
của nước rong hòa cùng cái ngọt của thịt thà thì không một loại hạt nêm
hay bột ngọt nào sánh bằng. Rong mơ cũng thường được ướp mặn để giữ
tươi, sau đó nấu nước sâm, nước rong biển, là món giải nhiệt tuyệt vời
trong những ngày hè nóng bức. Đây là loại rong dễ dùng, dễ chế biến
nhất, chỉ cần nhặt sạch rác rến quấn chung với rong là được một tô canh
mát lòng.
Còn rong câu thì phải nhọc công hơn.Khi mới vớt lên, rong có màu xanh
nhạt và khá tanh, thường lẫn sạn san hô dưới chân. Bạn phải ngâm rong
trong nước vo gạo ít nhất một đêm rồi gọt bỏ những chỗ dính sạn cát, sau
đó đem phơi khô. Lúc ấy, rong sẽ chuyển màu trắng ngà, dùng nấu cháo,
làm gỏi hay nấu thạch, nấu chè xa xa thì cứ gọi là “ngon hết ý”!
Gỏi rong câu chế biến khá đơn giản. Chỉ cần trộn với rau thơm, nước mắm
chua ngọt, tỏi ớt băm nhuyễn, thêm thịt tôm tùy ý. Cái ngon nằm ở khâu
gia giảm nước mắm sao cho vừa miệng, nhưng bí quyết lại ở chỗ vắt vào
vài giọt chanh khi ngâm rong câu, để rong bớt mùi tanh của gành hào, lại
thêm giòn.
Một món nữa tuy ngày xưa người ta thường chỉ ăn trong lúc giáp hạt,
nhưng đến giờ nhiều người vẫn thèm một bữa tuy đã no đủ, đó là món cháo
rong câu. Cháo nấu với chút gạo, độn thêm khoai và cho rong câu vào. Cái
ngọt của rong câu đã đủ làm món ăn ngon, chỉ cần thêm chút muối nữa là
thành món cháo đậm đà, sánh dẻo.
Riêng món chè xa xa hay còn gọi là xoa xoa thì giờ đã biến tấu khá
nhiều, vào đến miền Nam lại thành món sương sa hạt lựu, ăn với nước dừa.
Nhưng đúng xa xa làm từ rau câu thì phải chọn mẻ rau câu mập ngon, ngâm
nước vo gạo vài ba hôm rồi xả sạch để rong câu trắng và hết mùi tanh,
sau đó mới bắc lên nấu cho đến khi rong tan ra. Đa số người ta thích
rong chỉ tan vừa đủ để còn những lợn cợn, ăn vào sừn sựt mới tăng khẩu
vị. Thêm đường vào rong ngọt nhạt tùy ý, mà phải là thứ đường mật đường
mía hoặc đường phèn mới ngon, dùng đường cát trắng thì hỏng cả cái vị
dân dã của xa xa. Hoặc nếu không thích thêm đường thẳng vào món rong thì
thắng đường riêng, vắt vào chút chanh cho khỏi lại đường rồi thêm ít
gừng đập giập. Rong câu để cho thật lạnh, khi ăn rưới nước đường có mùi
thơm nhè nhẹ của gừng, ăn thế mới là đúng vị xa xa nguyên thủy.
Món ngon mát lòng như thế, lại chẳng tốn kém gì bao nhiêu nên các gánh
hàng rong cũng bán khá nhiều, nhất là trong những ngày hè. Chẳng thế mà
các anh hay lên tiếng ghẹo những cô nàng bán xa xa:
Xa xa ít vốn nhiều lời
Anh về… bỏ vợ lấy người xa xa
Anh về… bỏ vợ lấy người xa xa
Ở Việt Nam, khu vực miền Trung với những rạn san hô chết, hoặc những
vùng sóng mạnh, thủy triều lên xuống rõ rệt có mọc rất nhiều rong. Rong
vốn chuộng nơi nước ấm như thế...
0 nhận xét:
Đăng nhận xét